Bạch cương tàm từ lâu đã là vị thuốc được dùng nhiều trong Đông y. Nó có nguồn gốc từ con tằm ăn lá dâu (Bombyx Mori) còn gọi là tằm vôi, vì màu trắng như vôi (Bombyx cum Botryte, Bombyx botryticatus). Do sau khi chết, con tằm bị cứng ra nên có tên là cương (cứng = cương) và có màu trắng nên có tên là bạch. Tại sao như vậy? Lý do rất đơn giản là các con tằm này đã bị nhiễm một loại vi khuẩn (Botrytis bassiana Bals.) mà chết, rồi bị khô cứng đi và trắng ra. Để chủ động được nguồn nguyên liệu, hiện nay người ta có thể sản xuất bạch cương tàm bằng cách phun loại vi khuẩn nói trên lên các con tằm khỏe mạnh đã đủ tuổi, tức là có độ dài thích hợp, khoảng 4 – 5cm và đường kính thân khoảng 5mm. Sau khi bị phun nhiễm khuẩn, tằm bị chết cứng và trắng ra, có thể sử dụng làm thuốc. Tuy nhiên cách làm “nhân tạo” như vậy có đảm bảo tác dụng như cái cách chết tự nhiên của tằm trong thực tế, chưa thấy có kết quả nghiên cứu nào chứng minh. Theo YHCT, bạch cương tàm có vị mặn cay, tính bình, quy 4 kinh tâm, can, tỳ phế. Có tác dụng khu phong hóa đàm.

Những hiểu biết về bạch cương tàm
Hiện nay về mặt nghiên cứu thành phần hóa học của vị thuốc này vẫn còn ở mức độ rất khiêm tốn. Người ta mới chỉ thấy trong thành phần của nó có khoảng 67,44% protid, 4,38% chất béo, 6,34% tro. Tuy nhiên, chất protid của bạch cương tàm lại có tác dụng kích thích lên các hormon thượng thận. Có lẽ vì điều này mà bạch cương tàm đã được sử dụng để chữa các chứng liệt dương và di tinh, một chứng bệnh đã đưa lại nhiều phiền hà không đáng có cho một số đấng mày râu, đôi khi cũng đưa lại những cảm giác buồn chán và hẫng hụt cho những người bạn đời của họ. Vậy tại sao không dùng thử bạch cương tàm?
Cách dùng:
|
|
Chỉ cần dùng dưới dạng bột và chiêu với rượu trắng, ngày 2-3 lần, mỗi lần 4 – 6g, uống sau bữa ăn khoảng 1,5 -2 giờ. Dùng 3 – 4 tuần liền. Nếu thấy cách dùng này có sự phiền hà cho bạn, có thể dùng bạch cương tàm dưới dạng rượu. Bạch cương tàm (chế) 40g ngâm vào 400ml rượu gạo 30-35o. Sau 3 – 4 tuần là có thể dùng được, ngày 3 lần, mỗi lần 30-50ml, uống vào trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. Để tăng hiệu lực, có thể ngâm rượu các vị thuốc sau: ba kích, hà thủ ô đỏ mỗi vị 30g, trần bì 8g, ngâm với 600ml rượu 30-35o. Sau 3-4 tuần lấy rượu ra, pha với rượu bạch cương tàm nói trên, tỷ lệ (1:1). Có thể lặp lại các quy trình trên hai lần, song thời gian ngâm có thể giảm đi, chỉ cần 2-3 tuần là được. Cũng có thể sau khi ngâm rượu đủ cả 2 lần như trên rồi mới phối hợp để uống dần.
Trong dân gian dùng bạch cương tàm để chữa nhiều bệnh của trẻ em như kinh giản, co giật do sốt cao và động kinh: Bạch cương tàm chế 6g (bột), ngưu hoàng 0,15g (bột), quấy đều hai thứ bột này vào dịch sắc của thiên ma, đởm nam tinh, mỗi vị 12g, cho uống nhiều lần trong ngày.
Trường hợp trẻ bị khóc đêm (khóc dạ đề), có thể phối hợp bột bạch cương tàm chế, bột thuyền thoái chế (xác ve sầu, sao thơm), mỗi lần 0,3 – 0,5g, hòa trong sữa mẹ, hấp trên mặt nồi cơm. Lấy ra để nguội, gạn lấy nước cho bé uống.
Nếu bị viêm thanh quản, gây mất tiếng, phối hợp với kha tử, dưới dạng bột, mỗi vị 8-10g, ngậm nuốt dần nhiều lần, trong ngày.
Nếu cổ họng sưng đau, viêm amidan cấp tính, dùng bột cương tàm 8-10g, quấy đều vào nước sắc bạc hà 8g, trần bì 6g, sinh khương 4g để uống.
Tác dụng, Chủ trị :
+Trị trúng phong mất tiếng, tai biến mạch máu não, méo miệng, chân tay co rút, tinh thần bất ổn, trẻ con dạ đề, lao hạch.
+ Trị trẻ nhỏ bị kinh phong, khóc đêm (Bản Kinh).
+ Trị băng trung, xích bạch đới, sinh xong bị đau nhức, trưng hà (Biệt Lục).
+ Trị miệng méo, ra mồ hôi, băng trung, rong huyết (Dược Tính Luận).
+ Tán phong đờm kết hạch, loa lịch, đầu phong, răng đum do sâu, da ngứa lở, đơn độc phát ngứa, đờm ngược kết báng, sữa không thông, băng trung, rong huyết, đinh nhọt…(Bản Thảo Cương Mục).
+ Trị trúng phong mất tiếng, bệnh do phong gây ra, dịch hoàn ngứa, đới hạ (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Trị trẻ nhỏ bị cam trùng, nướu răng lở loét, lưỡi sưng, lưỡi cứng ( Bản Thảo Chứng).
+ Trị các chứng phong gây bệnh ngoài da ( Y Học Khải Nguyên).
+ Tức phong, chỉ kinh, thanh hầu, khai âm. Trị động kinh, co giật, họng viêm cấp, liệt mặt, mề đay, lao hạch (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trừ phong, tiêu đờm. Trị trúng phong, động kinh, họng viêm cấp, quai bị, tràng nhạc (lao hạch), phong nhiệt ở thượng tiêu, ung nhọt đầu đinh, các loại họt độc ( Đông Dược Học Thiết Yếu).
-Liều dùng : Uống trong : 6 – 12g, bên ngoài có thể dùng để bôi, trẻ em dưới 15 tuổi dùng 1-6g.
-Kiêng Kỵ :
+ Bạch cương tằm ghét các vị Cát cánh, Phục linh, Phục thần, Tang phiêu tiêu, Tỳ giải (Dược Tính Luận).
+ Phàm bị trúng phong cấm khẩu, trẻ nhỏ bị co giật, khóc đêm, do Tâm hư, thần hồn không yên, huyết hư mà không có ngoại tà thì không được dùng Bạch cương tằm ( Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Huyết hư, không có phong tà : không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).





